Thăng trầm nghề gốm Biên Hoà (Sản phẩm của sinh viên 24BC Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình II)
VOV.VN - Trải qua hàng trăm năm hình thành và biến đổi, gốm Biên Hòa vẫn tồn tại như một phần ký ức văn hóa vùng đất Đồng Nai. Dòng gốm từng có thời kỳ hưng thịnh, ghi dấu ở bản đồ mỹ thuật quốc tế, rồi lại đối mặt với nhiều thách thức. Dẫu vậy, gốm Biên Hòa vẫn được gìn giữ bởi những nghệ nhân nặng lòng với nghề.
Dấu tích gốm xưa trên vùng đất hơn ba thế kỷ
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, lịch sử gốm Biên Hòa gần như song hành với quá trình khai phá và hình thành vùng đất Đồng Nai hơn 325 năm trước. Từ thế kỷ XVII, cùng với bước chân khai khẩn của lưu dân người Việt và người Hoa, nghề làm gốm đã xuất hiện tại khu vực Cù lao Phố trung tâm thương mại sầm uất bậc nhất của phủ Gia Định xưa.
Từ thế kỷ XVII, cùng với bước chân khai khẩn của lưu dân người Việt và người Hoa, nghề làm gốm đã xuất hiện tại vùng Cù lao Phố.
Các phát hiện khảo cổ tại Bình Đa (phường An Bình), Gò Me (phường Thống Nhất), Cầu Sắt và Suối Chồn (xã Bình Lộc, thị xã Long Khánh), Suối Linh (huyện Vĩnh Cửu)… cho thấy dấu vết xỉ lò và mảnh gốm có niên đại từ thế kỷ XVII–XVIII, bao gồm cả gốm Trung Bộ và gốm Trung Hoa. Những di chỉ này khẳng định nghề gốm đã sớm bén rễ, phát triển gắn liền với dòng chảy thương mại và giao lưu văn hóa khu vực.
Từ cuối thế kỷ XIX, gốm Biên Hòa đã nổi tiếng lừng danh trên làng gốm thế giới.
Dòng gốm Biên Hòa được xác định hình thành rõ nét từ khoảng giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX và kéo dài đến cuối thế kỷ XX. Khi Cù lao Phố trở thành đầu mối giao thương quan trọng, gốm là một trong những mặt hàng chủ lực, với sản phẩm đa dạng từ đồ dùng sinh hoạt, vật dụng thờ cúng đến đồ trang trí mỹ thuật.
Từ suy thoái đến tái định danh
Biến cố lịch sử cuối thế kỷ XVIII đã khiến nghề gốm Biên Hòa rơi vào giai đoạn suy giảm. Theo cuốn Gốm Biên Hòa (Phan Đình Dũng – Nguyễn Văn Thông – Nguyễn Yên Tri, xuất bản năm 2004), khi quân Tây Sơn tiến vào đánh các chúa Nguyễn, Cù lao Phố bị tàn phá nặng nề. Nhiều thợ gốm buộc phải rời quê: một bộ phận theo về Phú Lâm (Chợ Lớn) hình thành dòng gốm Cây Mai, số khác vượt sông Đồng Nai, lập nên làng gốm gia dụng Tân Vạn đây là tiền thân của các phường Tân Vạn, Bửu Hòa, Hóa An ngày nay.
Các sản phẩm tượng, phù điêu, bình gốm,... với kỹ thuật khắc nổi, khắc chìm, tạo hình lập thể đã thể hiện trình độ thẩm mỹ và sáng tạo vượt trội của nghệ nhân Biên Hòa.
Dấu mốc quan trọng giúp gốm Biên Hòa tái định hình xuất hiện vào năm 1903, khi người Pháp thành lập Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (nay là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai). Tại đây, các nghệ nhân được tiếp cận tư duy mỹ thuật phương Tây, kết hợp với kỹ thuật thủ công truyền thống bản địa, tạo nên phong cách gốm mang đậm tinh thần Đông Dương chính là sự giao thoa hài hòa giữa Đông và Tây.
Mỗi lò gốm đều giữ riêng bí quyết làm nghề về kỹ thuật pha chế men gốm.
Đặc điểm có lẽ là đặc sắc nhất của dòng gốm Biên Hoà chính là kỹ thuật tráng men xanh đồng cổ, đây được xem là loại men khó nhất, đòi hỏi nhiệt độ nung cao và hiểu biết sâu về hóa học. Men “vert de Bien Hoa”, được tạo từ mạt đồng, đá đỏ và bột cobalt, chỉ đạt màu chuẩn khi nung ở khoảng 1.250 độ C, tạo chiều sâu trầm lắng, biến ảo – trở thành dấu hiệu nhận diện hiếm hoi giúp gốm Biên Hòa được định danh trên thị trường quốc tế.
Niềm tự hào của mỹ thuật ứng dụng Việt Nam
Đầu thế kỷ XX, gốm Biên Hòa liên tục xuất hiện và giành giải thưởng tại nhiều triển lãm quốc tế: Paris (1922, 1925, 1932), Batavia – Indonesia (1934), Nagoya – Nhật Bản (1937), Saint Denis – đảo Reunion (1938), Bangkok – Thái Lan (1955), Phnom Penh – Campuchia (1955, 1956), New York – Mỹ (1958)… Qua đó, gốm Biên Hòa trở thành niềm tự hào của mỹ thuật ứng dụng Việt Nam.
Gốm Biên Hòa đã trở thành niềm tự hào của mỹ thuật ứng dụng Việt Nam.
Đến nay, dấu ấn gốm Biên Hòa vẫn hiện diện trên nhiều công trình kiến trúc, điêu khắc, trang trí mang tính biểu trưng như Nhà hội Bình Trước, Quảng trường Sông Phố... đều là các di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia. Ngoài ra, gốm Biên Hòa còn được cho là xuất hiện tại cổng chợ Bến Thành, Thư viện Quốc gia TP.HCM và một số công trình kiến trúc thời Pháp.
Bà Nguyễn Thị Hồng một nghệ nhân gốm Biên Hoà đang vẽ từng chi tiết cho sản phẩm gốm
Chia sẻ với phóng viên, bà Nguyễn Thị Hồng một nghệ nhân cơ sở gốm Nam Phong Biên Hoà cho biết mỗi sản phẩm gốm Biên Hòa là kết tinh của cá tính sáng tạo riêng. “Có người chịu ảnh hưởng gốm Bắc, có người mang nét Hoa, nét Khmer, nên hoa văn, hình khối rất phong phú. Đề tài cũng gần gũi với văn hóa dân tộc, từ tích truyện lịch sử đến hoa lá, linh vật”, bà Hồng nói.
Các đề tài trang trí trên gốm cũng gần gũi với đời sống và văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, nghề gốm Biên Hòa đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự cạnh tranh của các lò gốm công nghiệp sản xuất hàng loạt, giá thành thấp khiến nhiều cơ sở thủ công lao đao. Theo Hiệp hội Gốm mỹ nghệ Đồng Nai, nếu như năm 2000 toàn tỉnh có hơn 300 cơ sở gốm mỹ nghệ, thì nay chỉ còn chưa đầy 40 cơ sở hoạt động ổn định.
Người nghệ nhân tỉ mỉ sơn từng lớp màu lên gốm.
Nghệ nhân Mai Thị Thắm (làng gốm Nam Phong) bộc bạch: “Làm gốm bây giờ không dễ sống như trước. Chi phí nguyên liệu, công nung, đầu ra đều khó. Người trẻ không theo nổi nên bỏ nghề. Nhưng với tôi, gốm không chỉ là kế sinh nhai mà là cái nghiệp. Còn sức là còn làm, để nghề của cha ông không bị mai một”.
Sự xuất hiện của các lò gốm công nghiệp sản xuất hàng loạt với giá thành thấp đã khiến nhiều cơ sở thủ công gặp khó.
Dù còn nhiều nhọc nhằn, gốm Biên Hòa vẫn âm ỉ lửa nghề. Thời gian gần đây, các công trình kiến trúc mang dấu ấn gốm trở thành điểm đến thu hút giới trẻ tìm về chụp ảnh, khám phá lịch sử đô thị. Đáng chú ý, nhiều bạn trẻ đã bắt đầu mua, sử dụng, sưu tầm gốm Biên Hòa như một tuyên ngôn thẩm mỹ và cách gìn giữ bản sắc văn hóa.
Từ chi phí nguyên liệu, công nung đốt đến đầu ra sản phẩm đều gặp khó khăn.
Các chuyên gia văn hóa nhận định, dù Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ làng nghề truyền thống, song hiệu quả vẫn còn khiêm tốn. Gốm Biên Hòa, cũng như nhiều làng gốm nổi tiếng khác, cần những giải pháp căn cơ, dài hạn hơn từ bảo tồn kỹ thuật, đào tạo lớp nghệ nhân kế cận đến gắn kết di sản với đời sống đương đại.
Sinh viên 24BC2-VOV College/VOV.VN
- Nguồn bài viết: https://vov.vn/van-hoa/thang-tram-nghe-gom-bien-hoa-post1263515.vov